A DụC VƯƠNG
A Dục vương, một vị vua trị v́ xứ Ấn Độ vào thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch. Từ
một vị bạo chúa chinh phục xứ Kalinga, A Dục vương đă giác ngộ để trở nên
một anh quân đem hết đời ḿnh để phụng sự TAM BẢO.
I.- TiỀN THÂN CỦA VUA A DụC:
Vào một buổi sáng Đức Phật cùng hàng đệ tử khất thực tại thành Vương xá. Với
dung mạo đẹp đẽ, sắc tướng oai nghiêm, đến đâu Ngài cũng được mọi người mến
phục. Lúc ấy có hai đứa trẻ tên Java và Gijava đang dùng cát để xây dựng một
đô thị giả, có đền đài dinh thự, kho tàng chứa đầy ngũ cốc. Khi Đức Phật đi
qua, Java lật đật lấy một chén ngũ cốc giả, cung kính cúng dường Đức Phật.
Phật rất vui vẽ tiếp nhận. Ngài A nan, rất ngạc nhiên trước thái độ của Phật,
liền được Phật khai thị: Này A nan, khi Như Lai nhập diệt lối 200 năm, đứa
trẻ ấy (Ja va) sẽ được thọ sanh làm một Thánh quân đóng tại thành
Patalitutra và lấy vương hiệu là A Dục.
II.- HàNH VI HUNG BạO CỦA VUA A DụC:
Hoàng đế Asoka (Hán dịch âm A Dục) trị v́ trên một nước Ấn Độ rộng lớn hơn
bây giờ (trừ phần cực Nam của bán đảo), vào khoảng những năm 274-237 trước
Tây lịch (TL). Asoka là cháu nội của Chandragupta, người sáng lập ra triều
đại Maurya (Hán dịch là Khổng Tước). Cha của Asoka là Bindusara, có 16 người
vợ và 101 con. Asoka chỉ có một người em trai cùng mẹ là Tissa, về sau cũng
xuất gia và chứng quả A la hán.
Người ta kể lại, được tin vua cha lâm bệnh nặng tại thủ đô Pataliputra,
Asoka lúc bấy giờ đang làm phó vương tại vùng Tây Bắc Ấn, vi vă kéo quân về,
và để kế nghiệp vua cha, A Dục đă dùng một số mưu kế hết sức tàn đc để hại
người anh khác mẹ tên là Susima, cũng như giết sạch tất cả các anh em khác,
trừ người em cùng mẹ là Tissa. Sau khi diệt xong hoàng thân Susima, A Dục
c̣n hành phạt các quan lại, trước đă khinh rẽ ḿnh (v́ vua A Dục tướng mạo
xấu xí), A Dục lại tạo ra một địa ngục bồng lai: Bên trong là ngục thất mà
bên ngoài th́ kiến trúc chẳng khác nào bồng lai tiên cảnh, cai quản địa ngục
bồng lai là một tên đại ác trứ danh Girika. Địa ngục bồng lai là một mồi câu,
hễ ai đến đó dù chỉ để nghỉ mát cũng bị hành phạt. V́ quá hung bạo, nên A
Dục được dân chúng tặng cho tên là Ác Vương (Candacoka). Chính v́ vậy, mặc
dú A Dục lên ngôi vua, vào năm 329 trước TL, nhưng lễ đăng quang lại được tổ
chức 4 năm sau, vào năm 325 trước TL. Sự chậm trễ này nói lên bầu không khí
bẩt b́nh trong triều cũng như ở ngoài dân chúng, bởi hành đng tàn bạo, làm
mất nhân tâm của Asoka lúc bấy giờ.
Vào những năm đầu của triều đại, để củng cố thêm vương quốc, Asoka đă mở
chiến dịch đánh chiếm xứ Kalinga (nay là Orissa). Trong cuc chiến, 10 vạn
người bị giết, 15 vạn bị bắt. Cảnh tang tóc của chiến tranh đă làm cho Asoka
vô cùng hối hận, và từ đó về sau trở thành một Phật tử thuần thành, một vị
hoàng đế của ḥa b́nh, của một t́nh cảm nhân bản, sâu sắc bao gồm cả người
và loài vật.
Sự nghiệp vĩ đại của Asoka được ghi lại bằng chính các cáo văn của ông, khắc
trên các bia đá là trụ đá, do chính ông dựng lên rải rác tại khắp nhiều nơi
trên vương quốc rng lớn của ông, mà các nhà khảo cổ phương Tây và Ấn Độ đă
dần dần phát hiện được từ nửa cuối thể kỷ XIX trở lại đây.
III.- A DụC VƯƠNG TRỞ VỀ VỚI CHÁNH PHÁP:
Căn cứ vào những lời chính nhà vua cho khắc trên trụ đá, chúng ta thấy được
sự diễn tiến tư tưởng của vua A Dục như sau: Sau khi lên ngôi được tám năm,
A Dục vương dùng vũ lực chiếm cứ vùng Kalinga (trên vịnh Bengale). Nơi đâu
có dấu chân A Dục, nơi đó có máu chảy đầu rơi, hàng vạn sinh linh vô tội
phải thây phơi chiến địa, làng mạc bị thiêu hủy. Mt chiều kia trên chiến
trường Kalinga sau một trận chiến thắng nhưng trước cảnh tàn phá, chết chóc
điêu tàn, vua bỗng giựt ḿnh cảnh tỉnh: "dầu cho số người bị sát hại đọa đày
trong việc xâm chiếm xứ Kalinga nhiều đến thế mấy cũng không bằng sự đau khổ
của trẩm hôm nay".
Từ đó vua A Dục trở về với chánh pháp và nhất tâm hộ tŕ hoằng dương giáo lư.
Điều cho chúng ta kính phục là tuy A Dục là một Phật tử, nhưng Ngài là một
vị quân vương công b́nh, không bao giờ dùng uy quyền ḿnh bắt kẻ khác theo
đạo của ḿnh.
Một điều nữa là khi đă trở về với chánh pháp, Ngài đă thực hiện cuộc đời
ḿnh như chánh pháp và khuyến khích mọi người làm lành tránh dữ.
IV.-CÔNG NGHIệP H PHÁP CỦA A DụC VƯƠNG:
Công nghiệp hộ tŕ chánh pháp của A Dục vương nhiều và lớn lao không kể xiết.
Sau đây chỉ là vài việc đơn cử:
- Thăm viếng các nơi có sự tích đức Phật, xây dựng lại những trụ đá hay tháp
(nay vẫn c̣n). Chính những di tích này đă giúp không ít cho những nhà khảo
cổ t́m hiểu đời sống của đức Phật.
- Chủ trương kiết tập kinh tạng lần thứ 3 tại thành Pataliputra.
- Dựng lên khắp xứ Ấn Độ 84.000 bửu tháp để thờ xá lợi Phật.
-Xây dựng nhiều đền thờ có chạm trỗ những sự tích về Phật giáo và xây nhiều
bia đá có khắc nhiều chỉ dụ của nhà vua khuyên bảo dân chúng ăn ở theo chánh
pháp.
- Sa thải những phần tử không xứng đáng làm hoen ố Phật giáo.
- Cho con Ngài là Đại đức Mahinda mang tam tạng truyền bá trên đảo Tích Lan
(những tạng kinh điển này hiện nay vẫn c̣n lưu trữ tại Tích Lan).
- Thỉnh nhiều vị A La Hán đi truyền bá Phật pháp tại những xứ miền Tây Bắc
Ấn Độ như Cachemire, Gandhara và nhiều nơi khác như Mahisamandala (Maisur
hiện thời) Vainavasa.
- Gom góp Xá Lợi tại các Chư Hầu lại và chia ra 84.000 phần để thờ khắp nơi
(nơi nào có 10 triệu dân trở lên th́ được thờ 1 một xá lợi).
Các sự kiện trên đây chứng minh tinh thần hộ tŕ và hoằng dương chánh pháp
của vua A Dục nhiều biết ngần nào.
V.- A DụC VƯƠNG MộT GƯƠNG SÁNG:
Trước hết, kết thiện duyên với Phật không phải là căn cứ trên tuổi tác hay
căn cứ vào phẩm vật của sự cúng dường. Một đứa trẻ như Java gặp Đức Phật mà
phát tâm hoan hỉ cung kính cũng đủ để kết thiện duyên, cho dù vật cúng dường
chỉ là đất cát nhưng được thúc đẩy bởi thiện tâm, bởi ḷng thành kính cũng
được thọ kư.
Thứ nữa, con người cho dù là hung ác, v́ không một ai khi sinh ra là có thể
toàn thiện, nhưng khi thức tĩnh, th́ chắc chắn có thể hướng đến việc thiện
lành. Mt A Dục tàn bạo đến thế (Ác Vương) mà đă nhờ chánh pháp để trở thành
một minh quân, một vị Hộ pháp đắc lực. Điều đó cho chúng ta tin tưởng, xấu
có thể trở nên tốt: "tội từ tâm khởi đem tâm sám, tâm được tịnh rồi tội liền
tiêu".
Cho nên gặp kẻ ác chúng ta đừng tuyệt vọng và đừng nản chí . Biết đâu một
ngày nào đó kẻ kia lại không như A Dục Vương .
Thứ ba là đức tính rộng rải của A Dục, khi đă phát nguyện thọ giới, quy y
Phật Pháp, vua A Dục vẫn tâm b́nh đẳng và khoan hồng với các tôn giáo khác .
Thứ tư và quan trọng hơn cả là sự truyền bá Phật Pháp của A Dục không bằng
lư thuyết mà bằng tấm gương sáng của chính ḿnh, là hiện thân của tinh thần
Phật giáo, nên ảnh hưởng của Ngài thật sâu đậm, bền chắc mà các nhà khảo cứu
trên thế giới nhắc đến Ngài đều tỏ ḷng kính nể.
Một cuộc đời như thế thật đáng cho chúng ta chiêm ngưỡng.
Kết:
Bất cứ sử gia nào, dù là người phương Đông hay người phương Tây, dù có thiện
cảm hay không đối với đạo Phật, đều phải thừa nhận đạo Phật đă tạo ra trong
con người Asoka một biến đổi thần kỳ: Asoka - con người tàn ác (candasoka),
sau khi theo đạo Phật đă trở thành Asoka, con người thiện lành (dharmasoka),
hay con người thân thiết với thần linh (devanampiya), con người ai thấy đều
vui mừng (pyadasi)...
|