BHD Mien Thien Minh - Huan Luyen

 

 

Thư Mục

pdf files: (to download file: Click and Save As)

Tài liệu hàm thụ

A Dục

 

Lộc Uyển

 

 

Lộc Uyễn - Tinh Thần Trại Lộc Uyển qua ư nghĩa Tên - Mục Đích - Khẩu Hiệu và Luật Trại.:
 

 

   

Tinh Thần Trại Lộc Uyển qua ư nghĩa Tên - Mục Đích - Khẩu Hiệu
và Luật Trại.

I.- Mở đầu :
Theo Quy Chế Huynh Trưởng GĐPT/VN tại Hoa Kỳ hiện chúng ta đang áp dụng, trong chương thứ ba về Huấn Luyện, có Bốn Trại Huấn Luyện từ thấp đến cao là: Sơ Cấp Lộc Uyển; Cấp I A Dục; Cấp II Huyền Trang và Cấp III Vạn Hạnh.
Sự chọn lựa ấy, theo thứ tự thời gian và lịch sử truyền bá Phật Giáo:
* Lộc Uyển: Nơi Đức Phật Chuyển Pháp Luân vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch - Đức Phật Thuyết Pháp đầu tiên.
* A Dục: Vị Vua chấn hưng Phật Giáo Ẩn Đ vào thế kỷ thứ III trước Tây lịch - Đạo Phật phát triển ở Ẩn Độ.
* Huyền Trang: Tam Tạng Pháp Sư Trung Hoa đời nhà Đường, sang Ấn Độ Thỉnh Kinh mang về nước, vào thế kỷ thứ IX sau Tây lịch - Đạo Phật truyền sang các nước và phát triển mạnh ở Trung Hoa.
* Vạn Hạnh: Danh Tăng Việt Nam đời Nhà Lư vào thế kỷ thứ XI - Đạo Phật bành trướng và trở thành Quốc Giáo ở Việt Nam.
Như vậy, Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng Sơ Cấp Lộc Uyển là ngưỡng cửa đầu tiên bước vào Nghề Huynh Trưởng, mà Trại được tổ chức nhằm Mục Đích: Đào tạo Huynh Trưởng Đoàn Phó Thực Thụ, với điều căn bản trước tiên là hiểu biết đại cương về tổ chức các Đoàn

II.- Ư nghĩa Tên Trại:
Lộc Uyển - nghĩa là Vườn Nai, là một địa danh của Isipatana. Vườn Lộc Uyển nằm ngay trong rừng Khổ Hạnh, trên bờ sông Ni Liên Thuyền, phụ lưu của sông Hằng, ở phía Tây Bắc của Thành Ba La Nại (Beranes hay Saranath) thuc nước Ma Kiệt Đà. Ngày nay là Ấn Độ.
* Gọi là Khổ Hạnh: v́ khu rừng này là nơi các Đạo Sĩ chuyên tu các phép ép xác, nhiều lối tu khổ hạnh đến kỳ quặc.
* Gọi là Lộc Uyển: V́ trong khu rừng này, giữa phong cảnh cực kỳ thanh nhă xinh tươi, có nhiều đàn nai nhỡn nhơ vui sống, v́ các đời Vua nối tiếp nhau, cấm nhân dân săn bắn dưới mọi h́nh thức.
Lộc Uyển cũng có tên gọi là Lộc Giả hoặc Lộc Giả Uyển. Chính nơi này đức Phật đă thuyết pháp cho 5 anh em Kiều - Trần - Như bằng pháp môn Tứ Diệu Đế, và chính pháp môn Tứ Diệu Đế đă khai thị cho Kiều-Trần-Như, Ác-Bệ, Thập-Lịch-Ca-Diếp, Ma-Ha-Nam-Câu-Ly và Bạc-Đề được ngộ đạo và chứng nhập quả vị A La Hán.
1.- Ư nghĩa Lịch sử:
a.- Chuyện Tiền Thân:
* Về Vườn Lộc Uyển :
Tại Vười Lộc Uyển này, trong một Tiền Kiếp lâu xa, Đức Phật Thích Ca có lần là Nai Chúa của đàn Nai hiền đáng thương, v́ hàng ngày, chúng là vật hy sinh, là món ăn ngon miệng của Nhà Vua; Và Chính Nai Chúa đă đánh thức được ḷng Từ của Nhà Vua, qua việc tự nguyện chết thay cho một con Nai đang mang thai, khi đến phiên bị giết.
* Về Đức Phật và Kiều Trần Như:
Trong kinh Đại Phương Tiện ghi lại một tiền thân của Đức Phật Thích Ca ở thời quá khứ - lúc Đức Phật Tỳ Bà Thi c̣n tại thế ở nước Ba La Nại có Thái Tử Tu Xa Đề đă lóc thịt ḿnh cúng dường phụ hoàng và mẫu hậu trên đường chạy loạn. Trước phút qua đời, Trời Đế Thích đă hiện thân làm sư tử hổ lang để oai hiếp Thái tử có thoái chuyển tâm nguyện Bồ Đề không. Nhưng đứng trước nguyện lực sắt đá của Thái tử, Thiên Đế Thích quyết đoán không bao lâu Thái tử sẽ đắc chứng quả. Nên xin Thái tử khi thành Phật hăy độ cho ngài trước Đế Thiên Đế Thích là tiền thân của ngài A Nhă Kiều Trần Như.
b.- Sáu năm tu khổ hạnh: Sau khi lang thang nhiều nơi, thụ huấn với nhiều Pháp Sư, Thái Tử Tất Đạt Đa vẫn chưa thỏa măn về các quan niệm tu hành. Cuối cùng, Thái Tử đă chọn Vườn Lộc Uyển để thực hiện các Pháp Tu Khổ Hạnh mạnh mẽ nhất. Sau đó, th́ có Năm Anh Em Ông Kiều Trần Như đến xin kết bạn đồng tu.
c.- Chuyển Pháp Luân: Sau khi Thành Đạo, Đức Phật Thích Ca đă rời Bồ Đề Đạo Tràng trở lại vườn Lộc Uyển, Chuyển Bánh Xe Chánh Pháp để độ Năm Bạn Đồng Tu trước đây. - Đức Phật đă Ba lần giảng Pháp Tứ Diệu Đế cho nhóm Ông Kiều Trần Như, gọi là: Tam Chuyển Tứ Đế - đó là Thị Chuyển, Chứng Chuyển và Khuyến Chuyển - Đây là bài Pháp căn bản và là cốt tủy của Giáo Lư Phật Đà.
d.- Đầy đủ Ba Ngôi Báu: Tại Vườn Lộc Uyển, Tam Bảo đă được thể hiện đầy đủ: Phật Bảo - Đức Phật Thích Ca; Pháp Bảo - Kinh Chuyển Pháp Luân Tứ Diệu Đế; Tăng Bảo - Năm Đệ Tử đầu tiên của Đức Phật là Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinya), A Xả Bà Thệ (Asvajit), Ma Ha Bạt Đề (Bhadrika), Thập Lực Ca Diếp (Dasabala Kasyapa), Ma Ha Nam Câu Ly (Mahanama Kulika).
e.- Giáo Hội Tăng Già đầu tiên: Cũng tại vườn Lộc Uyển này, Giáo Hội Tăng Già đầu tiên cũng được thành lập với 60 Vị A La Hán, sau khi Đức Phật đă đ cho Da Xá cùng bạn bè.
2.- Ư nghĩa Huấn Luyện:
Nhắc đến Lộc Uyển, Anh Chị Em chúng ta nên lưu tâm đến các điểm chính sau:
* Trước hết phải hiểu rằng: để cho thân tâm hưởng lạc chỉ càng khiến nó mê đắm ái trược; ngược lại, bắt nhục thể phải khổ cực th́ cũng chỉ khiến tâm thần rối loạn mà thôi. Điều này, Thái Tử Tất Đạt Đa đă trải qua khi c̣n ở Hoàng Cung, cũng như khi Tu ép xác ở rừng Khổ Hạnh. Khoái Lạc và Khổ Hạnh đă không làm cho Thái Tử Giác Ng và Giải Thoát. Bởi vậy, khổ hạnh quá độ cũng tai hại không khác ǵ phóng dật.
Do đó, chúng ta phải lượng sức ḿnh, công việc của Đoàn đ̣i hỏi người Huynh Trưởng một sự cố gắng bền bỉ, thường xuyên và liên tục, chứ không phải sự hăng hái quá độ, nhất thời, rồi chán nản buông trôi. Gia Đ́nh Phật Tử muốn người Huynh Trưởng không giải đải và cũng chẳng nên bốc đồng trong một lúc.
* Chúng ta phải nhớ kỹ: Vườn Lộc Uyển là nơi đầu tiên mà Bánh Xe Chánh Pháp đă được chính Đức Phật Thích Ca chuyển đẩy. Quan sát Bánh Xe Chánh Pháp chúng ta thấy có 12 căm, đó là áo nghĩa của bài Pháp Tứ Diệu Đế mà Đức Phật đă Tam Chuyển: Thị Chuyển - Chỉ rơ Pháp Tứ Diệu Đế; Chứng Chuyển - bằng chính kinh nghiệm Tu Tập và Chứng Đắc của Ngài về Bốn Điều Chắc Thật; Khuyến Chuyển - Khuyên thực hiện lời chỉ dạy ấy.
Ngày nay, chúng ta tham dự Trại Lộc Uyển, có nghĩa là đang bắt đầu đặt tay vào, và trực tiếp đẩy mạnh Bánh Xe Chánh Pháp. Do đó, chúng ta hăy nỗ lực học hỏi và tu tập, để có đủ khả năng và đức độ hướng dẫn các em, dùng đời sống bản thân để khuyến hóa các em, dùng kết quả về đời sống tu tập của chính ḿnh để nhiếp phục các em.
* Và sau hết phải thấy rơ: cũng tại vườn Lộc Uyển này, Ba Ngôi Báu đă thành tựu, cũng như Giáo Đoàn đầu tiên đă được thành lập; Và hôm nay, chúng ta được kế thừa di sản Quư Báu ấy, được ḥa ḿnh trong Giáo Hội với truyền thống, gia phong của Tổ Chức, Chúng ta càng phải tỏ ra gương mẫu, chấp hành kỷ luật, kỷ cương, nề nếp của Gia Đ́nh Phật Tử, để hoàn thành Nhân cách của người Phật Tử, Người Huynh Trưởng. Chúng ta phải tự xem ḿnh là một bộ phận nhỏ trong một bộ máy lớn, có khi chỉ v́ bộ phận rất nhỏ này bị hư, mà cả guồng máy to lớn bị tê liệt.
Nói như vậy, có nghĩa là chúng ta phải có Trách Nhiệm đối với Tổ Chức, mà Trách Nhiệm lại gắn liền với Danh Dự, nó liên quan và hỗ tương mật thiết vô cùng. Chúng ta nên ghi sâu vào tâm khảm điều này: Danh Dự của Anh Chị Em sẽ có phần ảnh hưởng đến Danh Dự của Tổ Chức, của Phật Giáo.

III.- Mục Đích & Tính Chất Trại Lộc Uyển :
Trại Lộc Uyển là Trại bước đầu tập sự làm Huynh trưởng, mà Mục Đích của Trại Huấn Luyện này được ghi nhận bởi Điều 27, Mục XI của Quy Chế Huynh Trưởng là :
- Hiểu biết thấu đáo về Ngành
- Đào tạo Đoàn Phó Thực Thụ.
Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng Lộc Uyển là khóa trại căn bản của cuộc đời Huynh Trưởng nên phải huấn luyện kỹ càng và chu đáo. Nếu trại sinh Lộc Uyển đă được huấn luyện đến nơi đến chốn để trại sinh có căn bản vững chắc th́ các trại trên được nhẹ nhàng hơn. Chính v́ thế nên trại sinh phải biết tự dặn ḿnh: cố gắng học hỏi, tiếp thu đầy đủ những kiến thức đă được trao truyền, mạnh dạn nêu lên các câu hỏi - những điều mà chưa nắm rơ trong phạm vi chương tŕnh huấn luyện của trại, để khi trở về đơn vị có thể ứng dụng sở học của ḿnh, giúp Đoàn trưởng trong việc quản lư điều khiển Đoàn được tốt hơn.
Mỗi Trại có một chương tŕnh riêng nên việc tổ chức, sinh họat đến kỷ luật của Trại cũng phải theo một qui định riêng biệt khác nhau. Từ Trại Lộc Uyển đến Trại Vạn Hạnh có một hệ thống huấn luyện liên tục, mà trại sinh không bỏ băng một trại nào.

IV.- Khẩu Hiệu Trại:
Khẩu Hiệu (Tiếng Reo) của Trại là: Tiến - Tiến đến mục đích của Tổ Chức qua việc Tự Tu Tập và Hướng Dẫn các Em, không lùi bước trước mọi khó khăn trở ngại, cố gắng vượt qua mọi thử thách gian lao, mĩm cười trước nguy hiểm, tự tại trước thất bại, vững chí cương quyết tiến lên trên con đường Đạo.

V.- Luật Trại:
Luật là mối dây tinh thần ràng buc Trại sinh sống thương yêu, ḥa hợp với nhau trong t́nh Anh Chị Em chung cùng Lư Tưởng, Mục Đích. Do đó, Luật của Trại là: Đúng giờ, Lanh lẹ, Tư cách đúng đắn.
* Đúng giờ: Ở Trại, cũng như trong sinh hoạt của Đoàn, của Tổ Chức, hay trong cuc sống hàng ngày ở ngoài xă hi, thực hiện đúng giờ giấc không những đạt được kết quả mong muốn, mà c̣n gây tạo niềm tin cho kẻ khác.
* Lanh lẹ: Nhanh nhẹn, trật tự, làm việc tháo vác, chịu khó, nhẫn nại, luôn xung phong và sẵn sàng nhận nhiệm vụ giao phó... chính là những yếu tố đầu tiên của Người Huynh Trưởng tập sống đời phụng sự.
* Tư cách đúng đắn: Tác phong bên ngoài thể hiện người lịch sự; Đức đ bên trong để làm gương, cảm hóa Đàn Em và nhiếp phục người khác.

VI.- TINH THẦN LỘC UYỂN ĐỐI VỚI HUYNH TRƯỞNG :
Như đă nói ở trên, Đức Phật chọn vườn Lộc Uyển để thuyết pháp lần đầu tiên và khai thị cho 5 anh em Kiều Trần Như đă chứng được quả vị A La Hán. Với ư niệm đó. Trại huấn luyện đầu tiên của cuộc đời Huynh Trưởng là Trại Sơ cấp lấy tên là Trại Lộc Uyển.
Cho nên, trước khi bước vào ngưỡng cửa của đời Huynh Trưởng - "Vạn sự khởi đầu nan"; không khác nào chúng ta xây dựng một ngôi nhà, điều cần thiết phải cấu tạo phần móng cho vững chắc. Móng có được vững th́ ngôi nhà sau này mới được trường tồn. V́ vậy, để hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng và cao cả đó, người Huynh Trưởng phải có tư cách đứng đắn và hiểu rơ nhiệm vụ của ḿnh, để làm điểm tựa tiến bước trên đường tu học, phục vụ Đạo Pháp, Dân Tộc và lư tưởng Gia Đ́nh Phật Tử.
* Tư cách của người Huynh Trưởng Lộc Uyển :
Tư cách là tấm gương sáng để các em noi theo, cho nên chúng ta cố gắng trau dồi tư cách; hầu thực hiện tốt những qui định của tổ chức để hoàn thành mọi nhiệm vụ. Tư Cách gồm có tác phong bên ngoài và Đức Độ bên trong.
+ Tác Phong bên ngoài:
Giúp ta biết một người có đứng đắn hay không: "Nh́n trang phục biết tư cách" hoặc "Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần". Thứ nữa, râu tóc có ảnh hưởng đến tư cách, tác phong không nhỏ. Cho nên đă là một Huynh Trưởng ta không để râu tóc quá lum thum. Đối với nữ Huynh trưởng: Chúng ta nên giản dị về trang sức, ăn mặc lịch sự kín đáo.
+ Đức độ bên trong:
Đức tính không phải do thiên tạo mà do chính chúng ta tập thành. Người đời thường bảo: "Đức thắng tài" nếu một người có tài mà thiếu Đức, th́ tài ấy cũng không thiết thực cho xă hội. Người Huynh Trưởng phải luôn luôn trau dồi 5 hạnh của người Phật Tử: Tinh tấn -Thanh tịnh - Trí tuệ - Hỷ xả và Từ bi. Tước mắt, những đức tính cần thiết cho Huynh Trưởng là:
- T́nh thương: Luôn luôn thương yêu đùm bọc các em: chỉ có t́nh thuơng màu sắc áo Lam mới đậm đà và vĩnh cửu (đơn cử một số thí dụ thực tế).
- Hy sinh: Phục vụ Đạo Pháp không cầu Danh, cũng chẳng cầu Lợi. V́ danh ǵ mà cầu. Cho nên chúng ta quên ḿnh, quên quyền lợi trong danh vọng riêng tư để phục vụ cho các em, dù gian khó bao nhiêu chăng nữa cũng không sờn ḷng.
- Kiên nhẫn: Luôn luôn kiên tŕ nhẫn nại trong mọi công tác "Thắng không kiêu, Bại không năn" - "Đường dài mới biết sức ngựa".
- Trung kiên: Nhờ đức tính kiên nhẫn trên ta tập được tính trung kiên. Khổng Tử ngày xưa cho rằng Trung là một đức tính quan trọng nhất, thiếu Trung th́ không một đoàn thể nào đứng vững được. Cho nên GĐPT đă tồn tại trên 50 năm nay là nhờ những Phật Tử Trung Kiên, đă có công duy tŕ bồi đắp cho tổ chức.
Một Huynh Trưởng có tư cách đứng đắn gây được cảm t́nh với người, và sẽ được mọi người kính mến, yêu chung, uy tín của người HT như vậy được tăng cường thêm lên, và sẽ đạt được thành công trong công tác điều khiển các em.

VII.- KẾT :
Trong bất cứ Đoàn Thể, Tổ Chức nào, cán bộ điều khiển vẫn luôn là thành phần tối quan trọng, liên quan ảnh hưởng đến sự thịnh suy của Đoàn thể, Tổ chức đó. Do vậy, Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng Sơ Cấp Lộc Uyển, mặc dù là giai đoạn đầu hướng dẫn và đào tạo Người Huynh Trưởng có tŕnh độ căn bản tối thiểu về Phật Pháp; hiểu biết đại cương về tổ chức cấp Đoàn; cũng như một số kiến thức và khả năng chuyên môn để hướng dẫn Đoàn Sinh, nhưng lại là phần căn bản, tối ư cần thiết, đ̣i hỏi ở sự cố gắng không ngừng, thường xuyên và liên tục của Quư Anh Chị, qua việc tự trao dồi và tu học bản thân để tiến đến việc xây dựng và cải tạo xă hội như Mục Đích của Gia Đ́nh Phật Tử đă đề ra, cũng như với Lư Tưởng cao đẹp mà Anh Chị Em chúng ta đă đang và sẽ măi đeo đuổi và hoàn thành.
 
i-version created 01/07/2008 www.bhdmienthienminh.org