BHD Mien Thien Minh - Huan Luyen

 

 

Thư Mục

pdf files: (to download file: Click and Save As)

Tài liệu hàm thụ

A Dục

 

Lộc Uyển

 

 

Lộc Uyễn - CUỘC ĐờI ĐỨC PHậT: 
 

 

   

CUỘC ĐờI ĐỨC PHậT

Không phải đến bây giờ chúng ta mới t́m hiểu lịch sử Đấng Thế Tôn. Là Huynh Trưởng, chúng ta phải hiểu rơ lịch sử của Ngài từ lâu rồi. Hôm nay, chúng ta đi sâu vào cuộc đời của Ngài để t́m hiểu những ư nghĩa cao cả qua từng giai đoạn trong cuộc đời vô cùng sáng ngời ấy.
Để có thể xác định thêm một ư nghĩa về lịch sử tư tưởng nhân loại trong cuộc đời của Đấng Thế Tôn, tưởng cũng nên t́m hiểu qua hoàn cảnh xă hội Ấn Độộ lúc bấy giờ.

I.- xă hội Ấn Độ TRONG THờI KỲ ĐỨC PHậT RA ĐờI:
Nói đến sự đau khổ bất công trong xă hội ở thế kỷ thứ V trước Tây lịch th́ hầu như nước nào cũng có, nặng nề nhất thời ấy, có thể nói là xă hội Ấn Độ. Một xă hội phong kiến áp bức, chia rẽ giai cấp. Quốc dân chia làm 4 giai cấp chuyên chế:
1.- Bà La Môn: Gồm các đạo sĩ tu hành đạo Bà la môn, được chuyên giữ lễ nghi, văn hóa, học thuật của dân tộc Ấn (theo quan niệm của họ: Phạm Thiên là đấng tạo ra vạn vật, muôn loài và đích cao nhất của người tu học đạo Bà La Môn là ḥa hợp với Phạm Thiên).
2.- Sát Đế Ly: Gịng họ nhà Vua, nắm quyền chính trị và thâu trong tay hầu hết đất đai của toàn quốc.
3.- Phệ Xá: Gồm những hạng người buôn bán, nhưng ḍng giỏi cao sang.
4.- Thủ Đà La: Gồm những người làm thuê, làm mướn suốt đời, bị khinh bỉ, không được học hành, không được nghe giảng đạo v.v...
Bốn giai cấp này có sự chênh lệch lớn và cấm tuyệt hôn nhân giũa hai giai cấp với nhau. Ngoài 4 giai cấp c̣n có một hạng người đông đảo không được liệt vào một giai cấp nào, họ bị khinh rẻ hơn con vật, cuộc sống của họ tỵ tiện khổ sở hơn một con vật đói khát. Hạng người này phải mang lục lạc ở chân để các người ở giai cấp trên biết mà tránh xa họ. Có lúc họ phải trốn vào bụi cây để các người khác không thấy. Họ chỉ sống bằng cách lượm thức ăn dư thừa và cuối cùng họ lê thân đến băi tha ma nằm chờ chết.
Giữa một xă hội vô cùng khổ đau, bất công, bất b́nh đẳng như thế, một trung tâm của sự hỗn loạn vô cùng trong tư tưởng như thế, th́ một đóa hoa ƯU ĐàM đă nở (không phải Đức Phật ra đời chỉ để cứu độ cho một nước Ấn Độ, nhưng vào thời kỳ đó, Ấn Độ là một nước trung tâm của khổ đau, của phân chia giai cấp).

II.- cuộc đời CỦA THÁI TỬ TẤT ĐạT ĐA: (cần ôn lại lịch sử của Ngài trước khi học bài này )
1.- Thời niên thiếu: Thái tử Tất Đạt Đa ra đời vào ngày Rằm tháng 4 âm lịch (tính theo lịch tàu) tại vườn Lâm Tỳ Ni trong lúc hoàng hậu Ma Gia đang dạo chơi ngắm cảnh. Bản tánh của Ngài rất thông minh. Lúc lên 7 tuổi, Vua cha chọn cho thái tử những giáo sư danh tiếng vào cung để dạy thái tử. Năm 12 tuổi, thái tử chiếm giải nhất trong nước về văn chương, nghệ thuật, triết học, chính trị và cả vơ nghệ: Chẳng bao lâu thái tử vượt hơn cả sức hiểu biết của các giáo sư. Mọi người đều thán phục. (Qua phần này, chúng ta thấy rơ trí tuệ phi thường của ngài).
Thái Tử ưa thích yên tĩnh, từ tiếng kêu thống thiết của loài côn trùng trong đêm vắng cũng làm cho Thái Tử động ḷng thương; một chiếc lá vàng rơi cũng làm cho Thái Tử ưu tư suy nghĩ (T́nh thương chúng sanh đă trổi dậy trong ḷng thái tử).
V́ vậy, nhà vua t́m mọi lạc thú, sung sướng trên đời để cầm chân Thái Tử và cũng không cho thái tử xuất gia như lời tiên đoán của A Tư Đà.
Năm 17 tuổi, thái tử vô địch trong cuộc thi tài cùng các vương tôn công tử trong nước và các chư hầu tại hoàng thành (phần này chúng ta thấy sức mạnh phi thường của một chàng trai anh dũng), và theo lệnh vua cha kết duyên với Gia Du Đà La, một nàng Công Chúa kiều diễm của lân bang. Nhà vua cho sửa sang cung điện cực kỳ mỹ lệ, tuyển hàng trăm cung nữ xinh đẹp ngày ngày múa hát.
Nhưng mọi sung sướng, mọi cảnh đẹp của thế gian không thể nào lay chuyển được ḷng thương chúng sanh ở con người cao cả ấy. Ngai vàng, điện ngọc , hạnh phúc, khoái lạc trần gian Thái Tử cũng không đam mê, trái với suy nghĩ của những thanh niên anh tuấn thời bấy giờ.
Sau cuộc du ngoạn ngoại thành, thái tử cảm thấy đau khổ trong tâm hồn, thông cảm nổi đau khổ của nhân loại; h́nh ảnh kẻ quằn quại trong cơn bệnh, ông già tiều tụy thất thiểu, h́nh ảnh người chết rụi bên vệ đường đă làm cho thái tử ngày đêm suy nghĩ. Ngoài những thảm cảnh ấy, con người c̣n bị khinh bỉ bởi thành kiến giai cấp của xă hội đương thời, họ không c̣n ǵ là chút tự do, hạnh phúc. (Ḷng thương của thái tử mở rộng phạm vi lớn hơn).
Thái Tử đă thốt lên: :Không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn, trong gịng máu cùng đỏ:. Những cái ǵ người đời cho là hạnh phúc nhất thế gian (Ngôi vua, điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan...) th́ thái tử cho là ảo ảnh và chỉ làm cho con người đau khổ. (Trí tuệ phát chiếu đến mức đ cao hơn).
Chính Thái Tử đă nói: "Ta đă thấy, đă nghe hơi thở thoi thóp của trần gian đang hấp hối. Ta đă nhận rơ bóng ảo huyền của lạc thú, sự mỉa mai của hạnh phúc, cái áo năo của những nỗi lao khổ nhọc nhằn. Thú vui chỉ mở đường cho đau khổ trong hội ngộ đă nẩy mầm chia ly, trẻ trung đưa đến già yếu, sống để rồi chết, rồi đến những cuc sống vô định khác, và cứ như thế, từng hạt đau thương chạy ṿng trên chuỗi hạt thương đau..." (Ánh Đạo Vàng của Vơ Đ́nh Cường).
V́ những lẽ ấy, v́ ḷng thương cứu độ chúng sanh đến nỗi tâm trí Thái tử thoát ra ngoài thân thể. Thái tử muốn t́m một hạnh phúc chân thật, tuyệt vời, một chân trời bao la rộng răi, một cuộc sống nhịp nhàng với nước non không biên giới, đập tan những gông cùm xiềng xích trói buc muôn loài trong thành tŕ thống khổ. Tư tưởng xuất gia càng trổi dậy trong tâm hồn thái tử (Từ bi rộng mở).
2.- Thái Tử xuất gia: Rồi... một đêm, Mồng 8 tháng 2 âm lịch khi trăng xuân vừa xế, cảnh vật triền miên trong giấc ngủ im ĺm, không một âm ba đồng vọng. Đông cung Thái Tử Tất Đạt Đa bỏ lại ngôi báu, bỏ lại những ngày vàng và đêm ngọc, gỡ cánh tay luyến ái của hiền thê, cắt ngang t́nh yêu mănh liệt của phụ hoàng và xa lánh đứa con thơ đang nằm bên ḷng mẹ... Con người chí khí ấy đă vượt thành xuất gia t́m đạo với một lư tưởng siêu phàm (Dũng lực của tinh thần).
Ta đă thấy rơ chơn tướng của sự sống rồi, ta sẽ đi t́m cho nhân loại một con đường giải thoát... (Ánh Đạo Vàng của Vơ Đ́nh Cường).
Đem ngôi vị đế vương đổi lấy cuộc đời vất vă của kẻ hành khất, tháng năm ṛng ră, phong sương phủ đầy trên thân người Vương giả. Thái tử t́m học đạo ở nhiều môn đạo lúc bấy giờ. Nhưng kết quả không có đạo nào cho người thấy rơ lẽ sinh tồn của vạn vật, không một đạo nào đưa con người thoát khỏi khổ đau. Nhưng qua đó ngài cũng thu lượm được nhiều kinh nghiệm.
Rồi Ngài cũng thực hành cách hành đạo của các phái cực đoan. Ngài tu khổ hạnh 6 năm trời, mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo, một hạt mè. Đến nỗi một ngày kia Ngài kiệt sức, ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, Ngài tự nghĩ. Ta nhịn đói hành phạt thân thể bấy lâu nay cũng chẳng có ích ǵ. Người cầu đạo cần mở mang trí tuệ. Mà muốn có tâm hồn trong sáng thanh tao cần phải có một thân thể rắn chắc khỏe mạnh để nương tựa, nhưng nếu thân thể đẩy đà sung măn th́ tâm hồn dễ đắm say sa đọa, mà thân thể yếu đuối tiều tụy th́ tâm hồn cũng bạc nhược, rối loạn. Quá sướng hay quá khổ không phải là tu hành chân chính. (Trí tuệ sáng tỏa hơn)
Lúc ấy nàng mục nữ Tu Xà Đề cúng dường Ngài bát sữa. Thọ bát sữa xong, Ngài b́nh phục, Ngài quyết định bỏ lối tu lầm lạc ấy. Đến núi Tượng Đầu, bên sông Ny Liên Thuyền, ngài xuống sông tắm rửa rồi đến gốc cây Bồ Đề, trăi cỏ làm nệm. Ngài tỉnh tọa yên lặng suy nghĩ, Ngài phát đại nguyện: "Dầu máu ta có khô, xương ta có mục, ta cũng không rời khỏi chỗ này, nếu ta chưa t́m ra đạo pháp nhiệm mầu, đưa muôn loài ra khỏi khổ đau, ra khỏi mê lầm tăm tối".
Suốt 49 ngày Ngài nhập định, tĩnh tâm, chuyên chú tham thiền. Ma vương sợ Ngài thành đạo sẽ giác ngộ cho mọi loài, liền rủ nhau đến quấy phá, quyến rủ, mê hoặc Ngài. Nhưng Ngài định lực cao cường, chiến thắng tất cả sự cám dỗ của Ma vương (Dũng lực của Ngài đă đi đến đại hùng, đại lực).
3.- Thái tử Thành đạo: Rồi đêm ấy. Đêm mồng 8 tháng Chạp, không một tiếng đng nhỏ của cảnh rừng u tịch, thời gian như ngừng trôi, vũ trụ và vạn vật đều im ĺm, giờ phút thiêng liêng ấy, từ đỉnh trán người xuất thế, một luồng hào quang sáng lánh như cả muôn chùm sao chùm lại chiếu rọi cả 4 phương, như bó đuốc sáng quét sạch cả bóng tối của đêm đen.
Đầu canh 2 Đức Thế Tôn đă chứng quả "Túc mạng minh" biết được những kiếp trước của ḿnh. Sang canh 3 Ngài chứng được "Thiên nhăn minh" thấu triệt những cuc sống chết luân hồi của vạn loại chúng sanh. Đến canh 4 Ngài chứng quả "Lậu tận minh" thấu triệt được nguồn gốc của sự khổ đau hiện tại, dùng trí tuệ trừ sạch phiền năo. Hào quang đại trí đă tận diệt mê lầm khám phá chân tướng của vạn hữu vũ trụ, t́m ra được nguyên do của sự khổ và phương pháp tận trừ khổ năo.
Ngày mồng 8 tháng Chạp, ngày hân hoan bất diệt, ngày của vũ trụ huy hoàng, ngày đạt tới chân lư tuyệt đối của Đông cung Thái tử TẤT ĐạT ĐA, tôn hiệu là THÍCH CA MÂU NI PHậT (Skya Muni Buddha). Từ đấy, Ngài là người chung của muôn loại chúng sanh, của CHÂN THIệN Mỹ (Trí tuệ đă phát chiếu đến cùng tột trở thành TRÍ TUệ BÁT NHĂ).

III/ THờI KỲ ĐỨC PHậT TRUYỀN ĐạO:
1.- Đức Phật truyền đạo: Sau khi Thành Đạo, Ngài chưa truyền đạo ngay v́ sợ đạo Ngài cao siêu khó hiểu. Nhưng sau đó, xét rơ căn cơ và suy nghĩ ra phương tiện ứng dụng, Ngài trở lại với mọi người. Đầu tiên Ngài thuyết pháp cho những người đồng tu khổ hạnh trước đây, kết quả 5 anh em Ông Kiều Trần Như được khai ngộ. Và rồi trong suốt 49 năm thuyết pháp giáo hóa trên khắp lưu vực b́nh nguyên châu thổ Ấn, đến miền núi rừng và rồi trên vạn ngă, từ thành thị đến thôn quê, mọi người đều được hồng ân pháp nhũ. Tăng đoàn của Ngài mở rng cửa đón mọi người thuc mọi tầng lớp, nghề nghiệp.
Trong số người tham gia Tăng chúng và chuyển Thánh quả, có cả Vua chúa , Bà la môn, thợ cạo, người đổ phân, thậm chí có cả người dâm nữ và có cả tên tướng cướp giết người không gớm tay là Augulimàla.
2.- Đức Phật nhập Niết bàn:
Suốt cuộc đời hoạt động, Đức Thích Ca từng căn dặn các đệ tử: "Các con hăy tranh đấu quyết liệt. Tranh đấu với chính ḿnh để đạt tới chân lư" và "Hăy tự ḿnh thắp đuốc lên mà đi".
Cho đến lúc thân tứ đại đă xoay vần trên tám chục xuân thu và măi đến khi hơi tàn sức kiệt, Ngài cũng cố gắng thuyết giáo lần cuối cùng cho các đệ tử trong một ngày một đêm cho hoàn tất bộ "Đại Niết Bàn" tại xứ Câu Thi La trong rừng Sa La. Khi Ngài gần nhập Niết bàn, Ngài c̣n căn dặn "Các con hăy tranh đấu dũng cảm để tự giác, giác tha".

IV.- Sự THị HIệN CỦA ĐỨC PHậT:
Từ thuở niên thiếu cho đến khi xuất gia, thành đạo và hành đạo, chúng ta thấy rằng Ngài luôn hướng về khổ đau của chúng sanh. T́nh thương rộng lớn của Ngài bao trùm cả muôn loài. Nhưng không phải chỉ có cuộc đời ngắn ngủi ấy Đức Phật thường nghĩ đến chúng sanh. Nếu đă đọc những truyện tiền thân đức Phật th́ ta được biết rằng. Từ vô số kiếp trước đức Thế Tôn đă có ḷng từ bi , luôn tâm niệm đem vui cứu khổ cho mọi loài. Công năng tu tập từ nhiều kiếp trước thêm vào công năng tu tập trong kiếp này đă đưa Thái tử Tất Đạt Đa đến quả vị Phật.
Công hạnh của Ngài trong các kiếp trước gần viên măn và do hạnh nguyện của Ngài sau này thị hiện xuống cơi Ta Bà để hoàn tất việc tu chứng, để đi đến viên măn, để cứu độ cho chúng sanh đang quằn quại trong đau thương mà điển h́nh nhất là xă hội Ấn Độ lúc bấy giờ. Hiểu được sự thị hiện này, mới thấy ḷng Từ bi của Đấng Thế Tôn thật quá bao la. Chính v́ lẽ đó, trong kinh Khánh Đăn có đoạn: :...Nay nhờ Phật Tổ năng nhân ...Ta bà thị hiện, Thích chủng thọ sanh...: Và cũng chính do sự thị hiện nên khi vừa ra đời, Thái Tử Tất Đạt Đa đă thốt nên câu nói: :Thiên thượng thiên hạ, duy Ngă :c tôn: (Trên trời, dưới trời chỉ có ta là hơn cả). Chúng ta phải hiểu chữ :Ngă: (Ta) ở đây không phải là chỉ Thái Tử Tất Đạt Đa mà cũng không phải chỉ Đức Phật Thích Ca sẽ thành Phật nay mai mà là cái :Ta: đại thể :Ngă: ở đây là :Chơn Ngă: - Phải trở về chính ḿnh. cuộc đời của ta là do ta tạo ra chứ không có Thượng đế nào định đoạt được (chỉ có ta là hơn cả). Cái ta đại thể ở đây là thể tịch tịnh tri giác không xao đng biến hoại (nên xem :Ch́a khóa học Phật: của Thích Thanh Từ để hiểu rỏ hơn). cuộc đời đức Phật mà ta đă t́m hiểu, phân tích cũng đủ để chứng minh câu Thánh ngôn vàng ngọc này.
Nhưng ta phải hiểu rơ sự thị hiện ở đây khác với sự giáng thế của một tôn giáo khác. Sự giáng thế của các tôn giáo khác có nghĩa là Đấng Thượng đế. Thần linh xuống trần gian này để dùng quyền uy tối thượng của ḿnh mà thưởng phạt nhân loại. Đức Phật th́ không phải thế, Ngài không bao giờ đặt ḿnh lên địa vị tuyệt đối ấy. Ngài từng nói với các đệ tử: :Ta đến đây là không phải để cứu đ các con, mà để chỉ đường cho các con, các con phải noi theo đó mà tiến hóa giác ngộ để tự cứu lấy ḿnh".

V.-TÍNH CHẤT CÁCH MạNG TRONG cuộc đời ĐỨC PHậT: (Ư nghĩa lịch sử cách mạng)
Giữa xă hội đau thương đầy dẫy bất công, phân chia, kỳ thị giai cấp của Ấn Độ lúc bấy giờ th́ HOA ƯU ĐàM nở, sau khi chứng quả Đức Phật đă hoạt đng không ngừng, luôn luôn đứng về phía đau khổ, về những người bị áp bức bóc lt, đặt địa vị xứng đáng của con người lên trên tất cả để giải phóng cho họ. Ngài gần người, tin người và yêu người, cốt t́m sự lợi lạc chính thức cho tất cả. Kẻ mê th́ Ngài cảnh tỉnh, người trí th́ người tiếp dẫn đến sáng suốt vô biên. Ngài chỉ dạy phương pháp diệt khổ để được an vui. Không phân biệt :vua chúa hay người ty tiện:.
Như vậy, Ngài đă san bằng giai cấp mà đă từ lâu đời ăn sâu trong xă hội Ấn Độ. Đức Phật bác bỏ cái gọi là quyền uy tối thượng của :Thánh Điển Vệ Đà:, Ngài đă nói :chúng sanh là Phật sẽ thành:. Ai cũng có Phật tánh, ai cũng có khả năng thành Phật. Ngài khôi phục và khẳng định trí tuệ của con người. Việc bác bỏ quyền uy tối thượng của Thánh Vệ Đà c̣n kèm theo hai hệ quả:
1.- Bác bỏ quyền uy xă hội của giai cấp Ba La môn.
2.- Bác bỏ tin tưởng ở một đấng thượng đế sáng tạo và ngự trị muôn loài.
Pháp sư Swami Vivekananda, trong cuc diễn thuyết gần đây (viết năm 1950) ở Luân Đôn và Nữu Ước, cũng đă tŕnh bày cho các bạn Tây Phương biết một quan niệm rất Á Đông về sự tiến b của nhân loại. một quan niệm khác hẳn với học thuyết Doroinisme, nghĩa là một sự tiến b không vâng theo con đường thẳng mà uốn cong theo ṿng tṛn. Chính công luật đó đă ứng hiện ở Ấn Độ vào thời bấy giờ. một sự hỗn loạn vô cùng trong tư tưởng, một bất b́nh đẳng vô lư... và một phản đng lực quyết liệt, phải xảy ra để đưa xă hội về một trật tự mới, mà người xướng lên là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Đạo Phật tập 2 của Huyền Chân).

VI.- Ư NGHĨA CAO CẢ VỀ cuộc đời ĐỨC PHậT:
Nếu phân tích từng giai đoạn của cuộc đời Ngài, chúng ta cũng thấy giai đoạn nào cũng kết tinh bằng t́nh thương, trí tuệ và dũng lực. Càng ngày t́nh thương càng rng lớn dần đến vô biên, Dũng lực th́ từ cái dũng thể chất của một thanh niên ưu việt chuyển đến cái dũng tinh thần, nghị lực lớn lao cắt đứt ái dục, bỏ cả vợ đẹp con ngoan, bỏ cả ngôi báu, ngọc ngà nhung lụa, bỏ cả những ǵ mà người đời cho là hạnh phúc nhất trần gian. Và cuối cùng tiến đến mức đ Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, chiến thắng Ma vương, ngoại cảnh và ma vương của ni tâm, trí tuệ sáng chiếu tuyệt đối đạt đến trí tuệ Bát Nhă (lúc Thành Đạo).
Đoạn sau của cuộc đời t́m đạo, chúng ta đă thấy công cụ mà đức Phật dùng để thể hi chân lư tuyệt đối là "TRÍ TUệ BÁT NHĂ", đó là cái trí tuệ cứu cánh, không phải chỉ học nhiều mới có được, mà c̣n phải hành phải tu mới có được.
Ngoài ra, chúng ta c̣n nhận được những ư nghĩa qua các sự kiện đặc biệt trong cuôc đời của đấng Thế Tôn.

VII.- Ư NGHĨA CÁC Sự KIệN ĐặC BIệT:
1.- Đản Sanh: Với nhiều hiện tượng lạ cho thấy Đức Phật không phải là người b́nh thường mà đây là lần thọ thân sau rốt của muôn ngàn kiếp sống trước đây (qua những chuyện Tiền Thân Đức Phật). Lần thọ thân này không phải thọ thân do nghiệp lực mà là một vị Bồ tát hiện thân để hóa đ chúng sanh. Ngài ra đời để dạy cho chúng sanh: "Ai cũng có khả năng thành Phật".
2.- Xuất gia: Khung cảnh và môi trường khi Ngài Xuất gia đă cho chúng ta thấy rơ: Ngài như một đóa sen tỏa hương thơm ngát và thanh khiết làm tươi đẹp thơm mát cho cuộc đời.
3.- Thành Đạo: Đến đích giải thoát, sự kiện Thành đạo có ư nghĩa rất sâu sắc:
- Trung đạo: Tránh hai cực đoan: Hưởng dục và khổ hạnh.
- Tự thân con người có thể đạt đến giác ngộ.
- Đoạn trừ được vô minh th́ ánh sáng "chân lư" lóe sáng.
4.- Hóa đ chúng sanh: Không phải chỉ giải thoát cho bản thân mà giải thoat cho mọi người (nói rng ra là mọi loài). Thể hiện Hạnh Từ Bi rng lớn và đấy chính là hạnh nguyện của Ngài, chính là đng lực thôi thúc Ngài Xuất gia. Công cuc hoằng hóa của Ngài đă nói rơ tinh thần "Giác Tha" sau khi "Tự Giác".
5.- Niết bàn: Niết bàn là tịch diệt, là thế giới của sự chứng nhập, giải thoát hoàn toàn. Ở đó không dấy lên một vọng niệm nào. Chỉ có chứng nhập mới hiểu được trạng thái tịch diệt vắng lặng của Niết bàn. Đây mới là cứu cánh. Đức Phật Nhập Niết Bàn tức là Đức Phật không c̣n sanh, tử nữa (Nhập Niết Bàn, như vậy, không có nghĩa là chết).
Đức Phật là đấng cứu tinh duy nhất của vạn loài chúng sanh, là vị Thế Tôn cao cả, vị lương y siêu phàm trị bệnh tâm hồn cho nhân loại, đưa nhân loại từ phiền năo đau thương đến an vui giải thoát. Nhưng đă là thầy thuốc th́ kết quả c̣n phải do bệnh nhân có chịu uống thuốc hay không ?
Sau khi đi sâu vào cuộc đời Đức Phật, chúng ta cung kính cảm phục, tôn thờ Đức Phật, v́ Đức Phật xuất hiện như một con người, chứ không phải như một Thượng Đế hay một Thần linh, mặc dù Ngài là vị Bồ Tát hiện thân. Đạo Phật là đạo Nhân bản, đạo của T́nh thương, của Trí tuệ, của Dũng lực. một đạo khẳng định khả năng của con người dựa trên nghị lực của bản thân, có thể đạt tới chân lư của cứu cánh và hạnh phúc hoàn toàn. Đạo Phật là một Đạo rất Người.



HUYNH TRƯỞNG CẦN SƯU TẦM ÔN TậP Và NGHIÊN CỨU THÊM:

1.- Lịch sử Đức Phật Thích ca (Trong Phật Pháp 4 cấp do T. Minh Châu, T. Thiên Ân, T. Đức Tâm, Chơn Trí biên soạn - BHDTƯ/GĐPTVN xuất bản).
2.- Ánh Đạo Vàng của Vơ Đ́nh Cường.
3.- Đạo Phật tập 2 của Huyền Chân (Đoàn Phật Học Đức Dục)
4.- Lịch sử Đức Thích Ca Mâu Ni (Phật Học Phổ Thông khóa 1 của ban Hoằng Pháp PGVN).
5.- Ch́a khóa học Phật của Thanh Từ.
6.- Khám phá vũ trụ và đời người của Vương Quốc Đạt.
7.- Đời Đức Phật Thích Ca, một guơng sáng cho nhân loại (của Nguyên Phương, trong báo Giác Ngộ số 1 - PL2512).
8.- Đời Đức Bổn Sư Thích Ca Thế Tôn của Tuyết Sơn (trong Viên âm số 114 - PL. 2515)
9.- Đức Phật thế kỷ của chúng ta của T.Nhất Hạnh (Từ quang số 115).
10.- Kinh Ưu Bà Tắc giới.

CÂU HỎI THẢO LUậN:

1.- Hăy phân tích từng giai đoạn trong cuộc đời Đức Phật để rút ra ư nghĩa cao cả về cuộc đời của Ngài.
2.- Huyền Chân có nói: "Phật Thích Ca và Đạo Phật sở dĩ có sức thuyết phục đối với chúng ta, chính v́ Phật xuất hiện như một con người, chứ không phải như một Thần linh hay Thượng đế". Hăy dựa vào lịch sử Đức Phật để chứng minh điều ấy.
3.- Qua cuộc đời Đức Phật ta có thể rút ra tinh thần b́nh đẳng trong Phật giáo không? Tinh thần đó như thế nào ?
4.- Khi vừa ra đời, Đức Phật ứng khẩu thốt lên câu nói: "Thiên thượng, Thiên hạ duy ngă độc tôn". Như vậy có phải đức Phật đă cho ḿnh là đấng tối thượng không ? Hơn nữa giáo pháp của Phật chủ trương "vô ngă" như vậy câu nói đó có mâu thuẩn không ? Hăy giải nghi.
"Lạ thay":
"Tất cả chúng sanh đều có đủ trí tuệ, đức tướng của Phật. Chỉ do v́ vọng tưởng, chấp trước mà không chứng được đạo quả. Nếu bỏ vọng tưởng th́ trí tuệ hiện tiền đầy đủ".
(Câu nói đầu tiên sau khi thành Phật dưới gốc cây Bồ Đề của Đức Thích Ca Mâu Ni).


 
i-version created 06/2008 www.bhdmienthienminh.org