
di ảnh Đức Đệ Tứ Tăng Thống Huyền Quang
Bài kệ Thiền Sư Nhất Hạnh và tứ chúng Đạo Tràng Mai Thôn
gửi về tu viện Nguyên Thiều để cúng dường giác linh đại lăo Ḥa Thượng Tăng
Thống Thích Huyền Quang.

Nguyên Thiều đường thượng
Huyền Quang đại lăo Ḥa Thượng giác linh thu chấp
Mai Thôn tứ chúng cập Nhất Hạnh thiền sư
Cung kính nhất tâm hộ niệm!
|
TIỂU SỬ ĐẠI LĂO H̉A THƯỢNG HUƯ THƯỢNG HUYỀN HẠ
QUANG
ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG - GHPGVNTNĐaị lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang, Đệ Tứ
Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, thế danh Lê Đ́nh Nhàn,
sinh ngày 19 tháng 9 năm 1920 (tức ngày 8 tháng 8 năm Canh Thân) taị làng
Háo Đức, xă Nhơn An, huyện An Nhơn, Tỉnh B́nh Định, trong một gia đ́nh tin
Phật nề nếp nho phong.
Năm 1934, Ngài xuất gia tại chùa Vĩnh Khánh, thờ Ḥa Thuợng Chơn Đạo làm
thầy, được ban pháp danh Như An, Pháp tự Giải Ḥa.
Năm 1935, Ngài thọ giới Sa-Di. Sau khi Hoà Thuợng Bổn Sư viên tịch, Ngài
thọ giáo với Ḥa Thượng Bích Liên - một bậc Cao Đức Thạc học trong Sơn Môn,
được ban pháp hiệu Huyền Quang.
Năm 1937, Ngài mới 18 tuổi nhưng nhờ phẩm chất xuất chúng, Ngài được đặc
cách miễn tuổi để thọ Đại giới Tỳ Kheo và Bồ Tát Giới tại Giới Đàn chùa Hưng
Khánh
Năm 1939, Ngài vào Nam học tại Phật Học Đường Lưỡng Xuyên, Tỉnh Trà Vinh.
Sau khi tốt nghiệp Phật Học Đường này, Ngài ra Huế tiếp tục ṭng học lớp Đại
học Phật Giáo tại Phật Học Đường Báo Quốc.
Năm 1945, Ngài tham gia và lănh đạo phong trào Phật Giáo Cứu Quốc, kháng
chiến giành độc lập dân tộc tại liên khu 5.
Năm 1955, Ngài được cung thỉnh làm Giám Đốc Tăng Học Đường ở Khánh Ḥa;
sau đó, được suy cử vào trong ban lănh đạo Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang.
Năm 1958, Ngài cùng với Chư Tôn Đức trong Tỉnh Hội Phật Giáo Tỉnh B́nh
Định khai sáng Tu Viện Nguyên Thiều, sau đó thành lập Phật Học Viện Nguyên
Thiều và được cung thỉnh làm Giám Đốc Phật Học Viện này.
Từ năm 1958 đến năm 1962, Ngài được suy cử giử chức Phó Hội Trưởng Hội
Phật Giáo Việt nam tại Trung Phần và làm Hội Trưởng Hội Phật giáo Thừa Thiên
Huế.
Năm 1963, Ngài tham gia và trở thành một trong những vị lănh đạo phong
trào đấu tranh đ̣i hỏi tự do tín ngưỡng công bằng xă hội của Phật Giáo dưới
chế độ tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Đêm 20 tháng 8 năm 1963, trong kế hoạch
nước lũ, tấn công vào các chùa, của chế độ này, Ngài bị bắt cùng các vị lănh
đạo Phật Giáo và hàng ngàn Tăng Ni Phật tử khác; và được thả tự do sau Cuộc
Đảo Chánh ngày 01 tháng 11 năm 1963.
Đầu năm 1964, Đại Hội Thống Nhất Phật Giáo được tổ chức tại chùa Xá Lợi,
Sài G̣n, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài được suy cử vào
chức vụ Tổng Thư Kư Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Từ năm 1964 đến năm 1974, đại diện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất, Ngài từng nhiều lần đi tham dự các Đại Hội các Tôn Giáo Thế Giới v́
Ḥa B́nh ở Nhật Bản, Thụy Sỹ, Bỉ Quốc…. và đi hành hương chiêm bái các Thánh
Tích Phật Giáo tại Thái Lan, Ấn Độ.
Năm 1974, Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kỳ 6, cung thỉnh
Ngài vào chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hoá Đạo.
Năm 1975, Cộng Sản chiếm miền nam, thiết lập chế độ mới. Trước chính sách
đàn áp thô bạo của chế độ mới này, cùng với cố Ḥa Thượng Thích Thiện Minh,
Ḥa Thượng Thích Quảng Độ . . . , Ngài tiếp tục lănh đạo Giáo Hội trong cơn
đổi đời đầy khủng bố đe dọa, nêu cao tinh thần đối kháng với bạo lực áp bức
của Tăng, Tín đồ Phật Giáo.
Năm 1977, Ngài bị bắt cùng với Ḥa Thượng Thích Quảng Độ và các vị lănh
đạo Phật Giáo khác. Do áp lực quốc tế và sự phản đối của đồng bào Phật tử,
nhà nước Cộng Sản phải đưa Ngài ra ṭa án nhân dân xét xử với kết quả là bản
án 2 năm tù treo và bị quản chế tại chỗ.
'Không chấp nhận ư đồ khống chế Phật Giáo bằng cách thành lập một Giáo
Hội Phật Giáo mới của nhà nước Cộng Sản, Ngài lại bị bắt ngày 25 tháng 2 năm
1982 và bị đưa ra quản chế cô lập tại chùa Hội Phước, Tỉnh Quăng Ngăi.
Năm 1992, cố Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Đôn Hậu, Đệ Tam Tăng Thống viên
tịch. Ngài đă bất chấp tất cả mọi đe dọa khũng bố, ngăn trở vượt đường ra
Huế dự tang lễ và tiếp nhận Ấn Tín cùng Di Chúc của Đức Đệ Tam Tăng Thống,
làm Xử Lư Hội Đồng Lưỡng Viện để tiếp tục lănh đạo việc đ̣i hỏi phục hồi
quyền sinh hoạt pháp lư của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Tại đây,
Ngài đă ứng khẩu, lên tiếng nói cho Phật Giáo và cho cả khối quần chúng bị
áp bức bởi cường quyền, công khai phát động phong trào đ̣i hỏi tự do, nhân
quyền cho dân tộc và cho sự phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất.
Sau đó không lâu trong t́nh trạng bị quản chế, Ngài chính thức đưa ra yêu
sách 9 điểm trong Đơn Xin Cứu Xét Nhiều Việc nhằm tố giác những bách hại của
chế độ với Phật Giáo, nhất là trong việc triệt hạ Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất.
Từ đó về sau, tiếp tục lên tiếng cho những khát vọng tự do, nhân quyền, và
cho sự phục hoạt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Ngài nhiều lần
cho công bố những văn thư, tuyên cáo gởi cho nhà cầm quyền Cộng Sản, can đảm
đề xuất những biện pháp giải quyết nhưng không được nhà cầm quyền đáp ứng.
Năm 2003, Ngài được đưa ra Hà Nội chữa bệnh. Tại đây, thủ tướng Phan Văn
Khải tiếp kiến Ngài; và sau đó nhà cầm quyền để ngài tự do đi vào Huế và Sài
G̣n; thăm viếng các bậc Tôn Túc; và cuối cùng, trở về tu Viện Nguyên Thiều,
B́nh Định.
Năm 2003, sau Đại Hội Bất Thường tại Tu Viện Nguyên Thiều, thành h́nh cơ
cấu Hội Đồng Lưỡng Viện, Đại Hội Bất Thường của Giáo Hội Phật Giaó Việt Nam
Thống Nhất tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu đă suy tôn Ngài lên
ngôi vị Đệ Tứ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Tịnh dưỡng tại Tu Viện Nguyên Thiều, dù tuổi già thân bệnh, ngài vẫn kiên
tŕ với tinh thần bất khuất trước cường quyền, vẫn là biểu tượng cho Tăng
Tín Đồ Phật Giáo Việt Nam trong và ngoài nước quy ngưỡng.
Ngày 27 tháng 5 năm 2008, căn bệnh đến hồi trầm trọng, Ngài lại phải vào
bệnh viện Đa Khoa Quy Nhơn. Sau khi được y, bác sĩ, các bậc Tôn Túc trong
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và Sơn Môn Pháp Quyến tận t́nh chăm
sóc; nhưng thấy cơn vô thường sắp đến, Ngài tỏ ư và được đưa trở về Tu Viện
Nguyên Thiều an nghĩ.
Ngày mùng 5 tháng 7 năm 2008, vào lúc 1 giờ chiều, Ngài xă báo thân, an
nhiên thị tịch, trụ thế 89 năm, hạ lạp 69 tuổi.
Là một nhà lănh đạo mang hạnh nguyện “v́ dân thọ khổ”, cuộc đời của Ngài
đă gắn liền với vận nước, vận đạo trăi dài trên sáu mươi năm. Là một bậc cao
tăng đạo hạnh, một ḷng hoài băo cho Phật Pháp, Ngài đă dày công kiến lập Tu
Viện, Học Viện đễ tiếp tăng độ chúng; và đă tận dụng thời gian, ngay cả
trong những năm tháng tù đày hay bị quản chế, đọc toàn bộ Đại Tạng Kinh,
biên dịch nhiều tác phẩm làm căn bản cho nếp sống, lễ nghi của người tu sĩ
như Thiền Môn Chánh Độ, Pháp Sự Khoa Nghi. . .
Cây đại thọ của Phật Giáo Viêt Nam thời hiện đại đă nằm xuống. Cuội đời
và nhân cách của một bậc Hùng Sư Đại Sỹ, dù đă ra đi nhưng vẫn c̣n đó cho
Tăng Ni, Phật Tử, và cho cả dân tộc Việt Nam ngày nay.
Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhất Thế Việt Nam Phật Giáo Thống
Nhất Giáo Hội Đệ Tứ Tăng Thống, húy thượng Như hạ An, tự Giải Ḥa, hiệu
Huyền Quang, Đại Lăo Ḥa Thượng Giác Linh Thùy Từ Chứng Giám.
|
|